Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

Hướng dẫn cách bắt mạch!

Tự bắt mạch sẽ cho phép bạn xác định nhịp tim mà không cần bất kỳ một thiết bị y tế đặc biệt nào. Điều này sẽ rất hữu ích nếu bạn đang cố gắng giảm cân hoặc tìm hiểu tình trạng cơ thể. Bài viết này sẽ giúp bạn tìm hiểu cách làm thế nào để dễ dàng kiểm tra mạch đập, cách bắt mạch mà không gây đau đớn.

Bắt mạch theo kiểu đơn giản?


Bạn không học y và muốn bắt mạch cổ tay, bạn làm như sau:

Để ngửa cẳng tay bệnh nhân trên mặt bàn (nếu bệnh nhân ngồi) hoặc trên giường (nếu bệnh nhân nằm).

Bạn xác định một rãnh nhỏ phía ngoài (phía ngón cái của tay bệnh nhân) ở vùng cổ tay bệnh nhân, rãnh này được tạo bởi bờ ngoài xương trụ của cẳng tay và các gân chạy giữa cẳng tay.

Bạn đặt 3 ngón tay gồm ngón trỏ, ngón giữa, ngón nhẫn của bạn lên rãnh nhỏ, dọc theo rãnh mà bạn vừa xác định, cách nếp lằn cổ tay của bệnh nhân khoảng 2 cm, từ từ ấn nhẹ nhàng 3 ngón tay của bạn lên rãnh này cho đến khi nào bạn cảm giác thấy mạch của bệnh nhân đập dưới các ngón tay mình rõ nhất (nếu ấn nhẹ quá hoặc mạnh quá sẽ không thấy).
Hướng dẫn cách bắt mạch!
Sau đó vừa đếm nhịp mạch này vừa theo dõi đồng hồ, đếm trong vòng cả phút và đếm như vậy hai lần liền thì chính xác hơn.

Trường hợp mạch của bệnh nhân đều có thể đếm trong 15 giây rồi nhân với 4. Đấy là đếm nhịp mạch còn việc phân biệt tính chất mạch và đánh giá như thế nào thì bạn bắt buộc phải học thôi. Bạn phải cho bệnh nhân nghỉ ngơi 15 đến 30 phút trước khi bắt mạch nhé.

Lưu ý là với việc đếm nhịp mạch bạn vẫn phải kết hợp với nghe tim mới phân biệt được trong những trường hợp mạch không đều hoặc bất thường.

Với người trưởng thành, không có bệnh tật gì, mạch đều, rõ, có tần số trong khoảng từ 60 - 80 lần/phút là bình thường, không phân biệt nam hay nữ bạn ạ.

Cách bắt mạch theo ngoisao hướng dẫn!


Tìm và ghi mạch đập


Sử dụng ngón tay trỏ và ngón tay giữa

Bạn cần sử dụng ngón trỏ và ngón tay giữa để tìm kiếm mạch. Không sử dụng ngón tay cái để tìm kiếm mạch bởi vì nó cũng có mạch riêng của mình.

Tìm mạch xuyên tâm: Đây là mạch ở bên trong của cổ tay. Sử dụng ngón trỏ và ngón giữa đặt lên cổ tay, bấm nhẹ cho đến khi bạn cảm thấy mạch của mình. Nếu cần thiết, bạn có thể di chuyển ngón tay xung quanh cổ tay cho đến khi cảm thấy được nhịp đập.

Tìm mạch động mạch cảnh: Để cảm nhận được mạch động mạch cảnh, bạn cần đặt ngón trỏ và ngón giữa vào vùng giữa khí quản và các cơ bắp lớn ở cổ. Bấm nhẹ cho đến khi bạn cảm nhận được mạch.

Kiểm tra và ghi lại nhịp tim

Sử dụng một chiếc đồng hồ và đếm số lần bạn cảm nhận được mạch trong vòng 1 phút (60 giây).

Xách định nhịp tim bình thường

Đối với người lớn, nhịp tim bình thường là khoảng 50 - 70 nhịp mỗi phút. Đối với trẻ em dưới 18 tuổi, nhịp tim bình thường là khoảng 70 - 100 nhịp mỗi phút. Đây là nhịp tim bình thường khi bạn đang nghỉ ngơi.

Kiểm tra độ mạnh của mạch

Độ mạnh của mạch là không thể tính toán. Khi kiểm tra mạch, bạn nên cảm nhận xem mạch của mình là yếu hay mạnh.

Làm gì khi không tìm thấy mạch


- Sử dụng ngón tay và đặt ở các điểm khác nhau trên các ngón của bàn tay còn lại. Bạn nên dừng lại tại mỗi điểm đó trong vòng 5 giây.
- Thay đổi áp lực của ngón tay trên cổ tay.
- Thử hướng cánh tay xuống phía sàn nhà. Sự thay đổi trong dòng lưu thông máu có thể giúp bạn tìm thấy mạch đập.

Lời khuyên


- Để đo nhịp tim thoải mái, hãy thử nằm xuống sàn nhà trong 1 phút trước khi kiểm tra mạch.
- Bạn cũng có thể kiểm tra mạch trên ngực của bản thân. Tuy vậy, phương pháp này được sử dụng khá ít.

Chú ý


- Nếu cảm thấy nhịp đập rất không đều, hãy tìm đến bác sĩ.
- Nếu cảm thấy nhịp tim rất nhanh hoặc rất chậm, hãy tìm đến bác sĩ.
- Đừng kiểm tra cả 2 động mạch cảnh ở cổ cùng 1 lúc vì nó sẽ làm giảm lưu thông máu đến não.
- Không nhấn quá mạnh lên cổ vì điều đó có thể sẽ kích thích một cơ chế phản xạ khiến tim đập chậm lại.

Cách bắt mạch theo Bảo Thanh Đường!


1. Thời gian để bắt đầu xem mạch (bắt mạch). Thực hiện bắt mạch vào khoảng thời gian nào là tốt nhất


Chẩn mạch thường vào lúc sáng sớm, âm khí chưa động, dương khí chưa tán, chưa ăn uống gì, kinh mạch chưa đầy, lạc mạch điều hòa, khí huyết chưa loạn, do đó, có thể tìm thấy mạch bệnh.Tuy nhiên nếu gặp bệnh thì bất cứ lúc nào cũng có thể chẩn mạch, không cần phảI  chẩn mạch vào lúc sáng sớm.

  1. Trước khi chẩn mạch, nên để cho người bệnh nghĩ 1 lát cho khí huyết được điều hòa.
  2. Không nên xem mạch khi người bệnh ăn uống quá no, đói qúa hoặc mới uống rượu, đi xa đến mà mệt mỏi...
  3. Ngoài ra, ống tay áo người bệnh quá chật, hoàn cảnh chung quanh ồn ào... cũng có thể ảnh hưởng đến việc chẩn mạch.

2. Tư thế lúc xem mạch


Người bệnh nên ngồi thẳng thắn, tự nhiên hoặc nằm ngửa, cánh tay nên duỗi ra 2 bên, bàn tay để ngửa cho huyết mạch lưu thông tốt và không ảnh hưởng đến mạch.

Vì nếu người bệnh nằm nghiêng thì cánh tay phía dưới đè lên làm mạch không chạy được. Nếu co tay lại thì bàn tay bị bế tắc, mạch không lưu thông. Nếu để xuôi tay thì máu dồn xuống làm mạch bị ứ trệ, nếu giơ tay lên cao thì khí chạy lên mà mạch nhảy. Nếu co cơ thể lại thì khí bị nén mà mạch bị gò bó. Nếu người cử động thì khí bị nhiễu loạn mà mạch chạy nhanh...”

Thầy thuốc nên ngồi nghiêng đối với người bệnh, dùng tay trái để chẩn mạch ở tay phải người bệnh và ngược lại dùng tay phải chẩn mạch ở tay trái.

3. Định hơi thở


Phương pháp chẩn mạch cốt ở tâm hư tĩnh.Thầy thuốc cần ổn định hơi thở, giữ vững tiêu chuẩn: 1 hơi thở ra, hít vào tương ứng với 4 lần mạch đập. Sau đó, căn cứ vào tiêu chuẩn này, tập trung chú ý vào các ngón tay đang đặt trên các bộ vị để thăm dò mạch tượng và số mạch đếm của người bệnh.

4. Cách đặt tay bắt mạch


Khi đặt ngón tay xuống, đầu tiên đặt ngón tay giữa vào bộ quan (mé trong chỗ xương cao-ngang với lồi xương quay), rồi đặt luôn 2 ngón tay 2 (trỏ) và 4 (áp út) phía trước và sau thành 3 bộ mạch. Ngón tay trước (trên) là bộ thốn khẩu, ngón tay sau (dưới) là bộ xích. Nếu cẳng tay người bệnh dài thì đặt ngón tay thưa, nếu cẳng tay ngắn thì đặt các ngón tay khít nhau”.

Khi đặt ngón tay (xem mạch) cần phải để đầu ngón tay bằng nhau vì mức độ cảm giác của da ở đầu các ngón tay đang xem mạch không giống (nhạy bén) như nhau... vì vậy, khi cần chẩn mạch, nên dùng chỉ nhĩ (chỗ đầu ngón tay nổi lên như sợi chỉ) để sờ, ấn.

 Ba ngón tay của người ta dài ngắn không bằng nhau, vì vậy phải để 3 đầu ngón tay bằng nhau, đốt ngón này ngang đốt ngón kia mới có thể chẩn mạch được. Nhưng da thịt đầu 3 ngón tay thì ngón trỏ nhạy cảm nhất, ngón giữa da dầy, ngón thứ 4 lại dầy và kém nhậy cảm hơn. Vì vậy, phải dùng cạnh của đầu ngón tay như sợi chỉ, gọi là chỉ mục (mắt của ngón tay) ấn lên sống mạch”.

Điều quan trọng hơn nữa là không nên dựa vào mạch đập ở đầu ngón tay của mình mà nhận lầm với mạch đập của người bệnh, vì ở đầu ngón tay của thầy thuốc cũng có động mạch.

Sau khi đặt tay đúng vị trí và đúng phương pháp, thầy thuốc phải biết vận dụng năng lực nặng nhẹ và di chuyển ngón tay để thăm dò mạch tượng.

Chẩn mạch có 3 điều chủ yếu là Cử, Án và Tầm. Nhẹ tay sờ mạch gọi là Cử, nặng tay chẩn mạch gọi là Án, không nặng không nhẹ, uyển chuyển tìm kiếm gọi là Tầm.

Hiện nay các nhà nghiên cứu mạch học nghiêng về cách sau:
  • Sơ (Khinh) Án: Bắt đầu đặt (đụng) ngón tay đến mạch của người bệnh để chẩn bệnh ở phủ.
  • Trung Án: Ấn nhẹ tay xuống 1 chút để biết về Vị khí.
  • Trầm (Trọng) Án: Ấn nặng tay xuống 1 ít để chẩn bệnh ở tạng.
Cách chung, khi chẩn (xem) mạch, nên:
  • Xem chung cả 3 bộ (Tổng Khán) để nhận định về tình hình chung (thường được dùng nhất).
  • Xem riêng từng bộ phận (Đơn Khán) để đánh gía riêng từng cơ quan, tạng phủ.
Ngoài ra, theo các nhà mạch học thì khi xem mạch còn cần phải chú ý đến 3 yếu tố là Vị Khí, Thần và Căn.

5 Vị khí:


Có Vị khí thì sống, không có Vị khí thì chết, vì vậy, mạch lấy Vị khí làm gốc.

Muốn xét diễn tiến của bệnh tốt hoặc xấu nên lấy Vị khí làm chủ. Cách xét này về vị khí như sau: “Thí dụ, hôm nay mạch còn hòa hoãn mà ngày mai lại Huyền, Cấp thì biết rằng tà khí đang tiến triển, tà khí càng tiến, bệnh càng nặng. Hoặc hôm nay mạch rất Huyền, Cấp nhưng ngày mai lại thấy hòa hoãn thì biết là Vị khí đã đến, Vị khí đến thì bệnh nhẹ dần. Nếu như trong chốc lát mà mới đầu thấy mạch Cấp mà sau đó Hoãn là Vị khí đến, lúc đầu Hoãn mà sau đó Cấp là Vị khí mất”.

6. Thần:


Gọi là thần của mạch tức là mạch đi nhu hòa. Thí dụ như bắt được mạch Vi Nhược thì tuy là Vi Nhược nhưng không đến mức vô lực là có thần, hoặc bắt được mạch Huyền Thực mà trong cái Huyền Thực vẫn thấy nhu hòa, là có thần. Tóm lại, mạch có Vị khí, có Thần đều là có hiện tượng xung hòa. Có Vị khí là có Thần khí, vì vậy, trên lâm sàng, cách chẩn đoán Vị khí và Thần như nhau”.

7. Căn:


Mười hai kinh mạch trong cơ thể đều nhờ ở chỗ động khí của Thận mà phát sinh. Thận khí còn cũng như cây có gốc (căn) cành lá tuy khô mà gốc chưa khô thì có hy vọng sống được. Thận khí chưa tuyệt thì mạch nhất định có căn. Mạch Trầm để chẩn tạng thận, bộ xích để chẩn về Thận, mạch ở bộ xích mà Trầm, có lực là dấu hiệu mạch có căn.

Khi chẩn mạch phải chú ý đến sáu yếu tố: Thượng, Hạ, Lai, Khứ, Chí, Chỉ, ông viết: “Chẩn mạch nên biết sáu chữ: Thượng, Hạ, Lai, Khứ, Chí, Chỉ, không hiểu sáu chữ đó thì không phân biệt được âm dương hư thực. Thượng, Lai, Chí là dương, Hạ, Chỉ là âm. Thượng là từ bộ xích lên tới thốn khẩu đến bộ xích, âm sinh ở dương, Lai là từ trong thịt xuất ra chỗ trong da ngoài, sự tăng lên của khí. Khứ là từ chỗ trong da ngoài thịt đi vào thịt vào xương, sự giáng xuống của khí. Ứng là Chí, nghỉ là Chỉ. Câu danh ngôn sáu chữ (Thượng, Hạ, Lai, Khứ, Chí, Chỉ) của Hoạt Bá Nhân, các y gia của các thời đại đều cho rằng đã tìm được điều cốt yếu của việc chẩn mạch.

Thượng, Hạ là chỉ mạch chí thông suốt từ bộ xích đến bộ thốn, chỉ chẩn sát 1 bộ mà phải chú ý đến tình hình cả ba bộ thốn, quan, xích “Ở bộ thốn, mạch Hạ không đến bộ quan là dấu hiệu dương tuyệt, ở bộ xích, mạch Thượng không tới bộ quan là âm bị tuyệt”.

Lai, Khứ là chỉ sự thăng giáng của mạch. Thăng giáng không cấp bách, nhẹ nhàng, điều hòa là mạch tượng của mạch không có bệnh. Mạch Lai mà Tật, mạch Khứ mà Từ là dấu hiệu trên thực dưới hư (hoặc trong hư ngoài thực). Mạch Lai mà Từ, Mạch Khứ mà Tật là dấu hiệu trên hư dưới thực (hoặc ngoài hư trong thực).

‘Chí Chỉ’ là chỉ vào chí và trong thời gian ngắn hay dài của các bộ mạch. Chí để chẩn mạch đến, thời gian ngắn hoặc dài của các bộ mạch. Chỉ thời gian ngắn dài ở bộ thượng có thể xét sự thịnh suy của chân dương để biện về yếu mạch của chân âm. Chỉ thời gian dài ngắn ở bộ hạ có thể xét sự thịnh suy của chân âm để biện về sự mạch yếu của chân dương”.

8. Không nên câu nệ về tính chất đặc thù của từng mạch.


Thí dụ: Khi nói đến biểu là phải quy về mạch Phù, nhiệt là Sác, lý là Trầm, hàn là Trì, mạch Huyền, Cường là Thực, Tế, Vi là Hư... tuy nhiên, phải cần lưu ý đến các yếu tố chân, giả.

“Mạch Phù tuy thuộc về biểu nhưng hễ âm hư, huyết thiếu, khí trung tiêu suy tổn sẽ thấy mạch Phù mà vô lực, vì vậy, không thể cho rằng mạch Phù hoàn toàn liên hệ với phần biểu. Mạch Trầm tuy thuộc về phần lý nhưng hễ ngoại tà mới cảm mà đã vào sâu thì hàn tà bó lấy kinh lạc, mạch khí không thông đạt được, sẽ thấy mạch Trầm, vì vậy, không thể cho rằng mạch Trầm hoàn toàn thuộc về phần lý. Mạch Sác là nhiệt, nhưng chân nhiệt chưa hẳn đã là Sác. Chứng hư tổn, âm dương đều bị khốn quẩn, khí huyết hỗn loạn, hư nhiều, mạch Sác cũng nhiều, vì vậy không thể nói là Sác hoàn toàn thuộc nhiệt được. Trì là hàn nhưng bệnh thương hàn, tà khí mới lui, nhiệt chưa hết, mạch phần nhiều là Trì Hoạt, vì vậy đừng cho rằng Trì hoàn toàn là hàn. Huyền, Cường thuộc Thực nhưng chân âm, vị khí hư quá và các chứng âm dương quan cách (bị ngăn trở), mạch sẽ Huyền, Cường, vì vậy Huyền cũng không hẳn là Thực, Mạch Vi, Tế thuộc hư trường hợp bị đau quá, khí bị bế, vinh vệ bị ủng trệ không thông, mạch sẽ phải ẩn nấp (Phục), vì vậy mạch Phục không phải hoàn toàn là Hư... từ đó có thể suy ra... trong các mạch đều có vấn đề”.

9. Sự khác nhau lúc mới đặt tay vào mạch và lúc xem mạch một lúc thật lâu.


Có khi mạch mới xem và xem một lúc lâu có sự khác biệt. Thí dụ: Lúc mới xem thấy mạch nổi to, xem một lúc thấy mạch chìm lặng. Hoặc mới xem thấy mạch mềm nhũn, xem lâu lại thấy bật dưới tay. Có khi lúc đầu thấy mạch Huyền, một lúc sau lại là Hoãn.“Khi chẩn mạch loại khách tà bạo bệnh mà mạch Phù là đúng. Nếu bệnh đã lâu, sức đã hư tổn, nên chẩn căn khí làm gốc. Nếu thấy Phù, Đại, ấn tay lâu thấy chìm mất, là hiện tượng chính khí quá hư, không cần hỏi là bệnh lâu hoặc mới nhiễm, tuy rằng chứng mà thấy nóng nhiều, phiền nhiễu do chính khí suy không tự chủ được mà hư dương thoát ra ngoài. Khi mới xem mạch thấy Nhu, Nhuyễn, bắt đầu thấy bật dưới tay là dấu hiệu bệnh ở phần lý, phần biểu không bệnh. Không phải tạng khí bị thụ thương thì là kiên tích ẩn phục bên trong, trường hợp này không thể cho đó là mạch Trầm mà lầm là bị hư hàn. Mới xem thấy mạch hơi Huyền, xem lâu lại thấy hòa hoãn, hễ bệnh đã lâu thì sắp khỏi, khí huyết tuy kém nhưng tạng khí chưa bại. Cách chung, mạch của người bệnh lúc mới đặt tay vào tuy thấy vô lực hoặc Huyền Tế, không hòa hoãn, xem lâu trên mười chí lại thấy điều hòa dần, thì bệnh có thể chữa. Nếu mới xem mạch thấy hòa hoãn nhưng xem lâu lại thấy Vi, Sác không ứng tay hoặc dần dần Huyền, cứng (ngạnh) thì bệnh khó chữa”.

10. Bỏ mạch theo chứng - bỏ chứng theo mạch.


Thông thường thì mạch và chứng tương ứng với nhau, nhưng có nhiều trường hợp mạch và chứng lại không đi đôi với nhau như dương chứng mà lại thấy mạch âm hoặc âm chứng mà thấy mạch dương... Sách ‘Y Biên’ giải thích rõ như sau: “Phàm bệnh mà và chứng không hợp thì một bên thật, một bên giả, cần phân biệt kỹ. Như bên ngoài tuy phiền nhiệt mà thấy mạch Vi, Nhược thì hư hỏa, hư tướng, lại chịu được công phạt sao?. Nên theo mạch mà chữa chứng chân hư chứ không theo chứng là giả tượng. Hoặc trường hợp bệnh vốn không có phiền nhiệt mà thấy mạch Hồng, Sác thì không phải là hỏa tà. Bệnh vốn không có trướng đầy, ứ trệ mà thấy mach Huyến, Cường thì không phải là chứng thực ở bên trong. Không nhiệt, không trướng lại có thể chịu được phép tả hay sao?. Nên theo chứng hư chứ không theo mạch giả thực... Nếu là tà làm thương tổn bên trong hoặc thực trệ, khí trệ mà bụng trên đau thắt đến nỗi mạch Trầm, Phục hoặc Xúc hoặc Kết, đó là tà bế tắc kinh lạc gây ra. Đã có chứng thực làm căn cứ thì mạch hư tức là gỉa, trường hợp này nên theo chứng chứ không theo mạch. Hoặc như bệnh thương hàn, tay chân gía lạnh, rét run mà mạch thấy Hoạt, Sác, đó là do nội nhiệt làm cách âm. Làm sao có thể biết được? Vì bệnh truyền từ kinh này sang kinh khác chứ  không phải trực trúng âm kinh, từ chứng nhiệt chuyển sang hàn. Đã có mạch Sác, Hoạt làm căn cứ thì ngoại chứng là giả hư, cũng theo mạch chứ không theo chứng vậy”.

Trường hợp nào nên bỏ mạch mà theo chứng, Lê Đức Thiếp trong sách ‘Định Ninh Tôi Học Mạch’ đã nhận định:

Nên bỏ mạch theo chứng trong các trường hợp sau:
  • Những bệnh mà nhận xét về mạch khó chính xác như  những người không thể chỉ căn cứ vào mạch hoặc những người không có bộ mạch để xem.
  • Những người thanh cao, 2 tay thường không có mạch, nếu có thì mạch đi rất êm dịu, nhẹ nhàng, bé nhỏ.
  • Những người thanh cao, 2 tay thường không có mạch, nếu có thì mạch đi rất êm dịu, nhẹ nhàng, bé nhỏ.
  • Những người mạch tay trái thường rất nhỏ hơn tay phải hoặc ngược lại.
  • Những người có mạch Phản Quan.
  • Những người không may bị cụt một hoặc cả hai tay.
  • Những người bị thương ngay vị trí để xem mạch

11. Mạch phản quan


Có người, không tìm thấy mạch ở bộ vị thốn khẩu như bình thường mà lại thấy mạch ở phần  trên đỉnh của bờ sau xương quay (ngang huyệt Liệt Khuyết) đi dọc xuống vùng lõm ở hố lào (huyệt Dương Khê), gọi là mạch PHẢN QUAN. Gặp loại mạch này, khi chẩn mạch, phải đặt bàn tay sấp xuống mới bắt được mạch. Loại mạch này có thể do bẩm sinh hoặc do bị chấn thương gây ra...

12. Mạch với kỳ kinh bát mạch


Mạch ở tay trái đi từ bộ xích hơi chếch lên bộ thốn và Trầm là mạch ÂM DUY bị bệnh. - Biểu hiện: đau trong tim (mạch Âm Duy đi vào phần âm, chủ về phần vinh, vinh là huyết, huyết thuộc về tâm, vì vậy đau trong tim).

Mạch ở bộ xích thấy lúc thì co vào, lúc duỗi ra và có vẻ Trầm Tế là ÂM KIỀU MẠCH bị bệnh. Biểu hiện: dương khí không đủ mà âm khí vượng, thường hay buồn ngủ, phía ngoài bắp chân dễ chịu mà phía trong căng thẳng (theo Nan thứ 29: dương hoãn mà âm cấp).

Mạch ở tay bên phải đi từ bộ xích hơi chếch lên bộ thốn và Phù là mạch DƯƠNG DUY bị bệnh. - Biểu hiện: thấy nóng, rét (lạnh), (mạch Dương Duy đi vào phần dương, chủ về phần vệ, vệ là khí,  khí ở biểu vì vậy thấy nóng lạnh).

Mạch ở 2 bộ thốn thấy lúc thì co vào, lúc duỗi ra và có vẻ Khẩn Tế là mạch DƯƠNG KIỀU bị bệnh. - Biểu hiện: âm khí suy mà dương khí thịnh sinh ra không ngủ được, phía trong bắp chân thì dễ chịu nhưng bên ngoài thì lại căng thẳng (Nan thứ 29 (N. Kinh): âm hoãn mà dương cấp).

Mạch ở 2 bộ quan thấy lúc thì co vào lúc duỗi ra mà có vẻ Hoạt Khẩn là Mạch ĐỚI bị bệnh. Biểu hiện: bụng đầy trướng, eo lưng đau tê, ớn lạnh như ngồi trong nước, phụ nữ thì bụng dưới đau, kinh nguyệt không đều, xích bạch đái.

6 bộ mạch ở 2 tay để nhẹ mà đều đi Huyền Trường là mạch ĐỐC bị bệnh. Biểu hiện: Sống lưng cứng, không thể cúi ngưả được, uốn ván.

6 bộ mạch ở 2 tay đi Khẩn Tế mà Trường, ấn kỹ lại thấy đi như hạt châu chạy liên tiếp là mạch NHÂM bị bệnh. Biểu hiện: đàn ông thì bị chứng sán khí,  đàn bà thì bị xích bạch đái  hoặc tích tụ ở bụng dưới (trưng hà).

6 bộ mạch ở 2 tay phải ấn thật mạnh mới thấy đi Huyền Trường là mạch XUNG bị bệnh. Biểu hiện: khí từ bụng dưới xông lên, bụng trướng, đau.

13. Quan hệ giữa mạch và ngũ hành


  • Dùng ngũ hành áp dụng vào mạch ta thấy:
  • Tay Bên TRÁI: Thận thủy (bộ xích) sinh Can mộc (quan), can mộc sinh Tâm hỏa (thốn).
  • Tay Bên PHẢI: Mệnh môn hỏa (bộ xích) sinh Tỳ thổ (quan), tỳ thổ sinh Phế kim (thốn).

14. Mạch và khí huyết


Xét về khí huyết với mạch ta có:

  • Bên trái thuộc Huyết: Thận, Can và Tâm. Thận (tàng tinh, tinh  sinh huyết ) - Can tàng huyết - Tâm chủ huyết.
  • Bên phải thuộc Khí: Mệnh môn (Tam tiêu) Tỳ và Phế. Tỳ là trung khí - Mệnh môn là nơi chứa nguyên khí - Tam tiêu là đường dẫn khí - Phế chủ khí. Vì vậy, mạch ở bên phải liên hệ với khí.

15- Quan Hệ Giữa Mạch Và Mùa


Mỗi mùa ứng với một tạng nhất định, dù mùa đó cũng chi phối toàn thể các mạch khác trong suốt thời gian đó.

Mùa Xuân:  Mạch Huyền

Cây cối xanh tốt vào mùa này, màu xanh ứng với màu của Can, do đó có mạch Huyền (mạch của Can).

Mùa xuân dương khí bắt đầu phát (thiếu dương) nhưng khí lạnh vẫn chưa hết, khí cơ còn có hiện tượng ước thúc, vì vậy mạch tượng thấy đầu thẳng mà dài, giống như giây đàn (Huyền).

Mùa Hè: Mạch Hồng

Cây cối lớn lên, sức nóng của mùa hè bùng lên, thiêu đốt vạn vật như lửa bùng lên (Hồng).

Vào mùa này, vạn vật tươi tốt, thịnh vượng, mạch đến thì thịnh mà đi thì suy, vì vậy sách ‘Nội Kinh’ gọi là mạch Câu.

Mùa Thu: Mạch Mao

Mọi vật bắt đầu thu lại, lá cây khô đi và rụng giống như lông, do đó mạch của mùa thu là mạch Mao.

Thời điểm này, dương khí bắt đầu suy, thế mạch đã giảm chỉ thấy Phù. Sách ‘Nội Kinh’ gọi là mạch Mao là hình dung thể mạch đến ứng dưới tay thấy  nhẹ như lông (Mao).

Mùa Đông: Mạch Thạch

Mọi vật thu giữ lại, tàng trữ tất cả khả năng mạnh mẽ của mình để sống qua cái lạnh giá, vì vậy, mạch của mùa đông là mạch Thạch.

Mùa đông vạn vật bế tàng, thế đến của mạch khí trầm mà có sức bật vào ngón tay, sách ‘Nội Kinh’ gọi là mạch Thạch là hình dung mạch đến ứng vào tay có lực cứng như cục đá (Thạch).

Tứ Quý: Tứ Quý là chuyển tiếp giữa các mùa, vì vậy thường mang đặc tính ôn hòa, do đó mạch của Tứ Quý là mạch Hoãn.

16. Quan hệ giữa mạch và lục dâm. (Ngoại Tà)


  • Hàn làm hại (thương) Thận vì vậy có mạch Khẩn.
  • Thử làm hại (thương) Tâm vì vậy có mạch Hư.
  • Táo làm hại (thương) Phế vì vậy có mạch Sáp.
  • Thấp làm hại (thương) Tỳ vì vậy có mạch Nhu.
  • Phong làm hại (thương) Can vì vậy có mạch Phù.
  • Nhiệt làm hại (thương) Tâm bào vì vậy có mạch Nhược.

17. Mạch và thất tình (Nội Nhân)


  • Hỷ thương Tâm gây nên mạch Hư.
  • Tư thương Tỳ gây nên mạch Kết.
  • Ưu thương Phế gây nên mạch Sáp.
  • Nộ thương Can gây nên mạch Nhu.
  • Khủng thương Thận gây nên mạch Trầm.
  • Kinh thương Đởm gây nên mạch Động.
  • Bi thương Tâm bào gây nên mạch Khẩn.

18. Mạch Và Nam Nữ


“Mạch của phụ nữ thường nhu nhược (yếu) hơn mạch của nam giới”.Khi Xem mạch ‘Nam Tả Nữ Hữu’. Xem mạch, phái nam xem bên tay trái (làm chính), phái nữ xem bên tay phải (làm chính).  “Xem mạch phái nam, mạch tay trái (dương) mạnh hơn tay phải (âm) là dương nhiều hơn âm là thuận. Ngược lại, mạch tay phải mà mạnh hơn tay trái là âm nhiều hơn dương không thuận, tức là người nam đó bị âm thịnh dương suy. Xem mạch người nữ mạch tay phải (âm) mạnh hơn tay trái (dương)  là âm nhiều hơn dương là thuận. Ngược lại, nếu mạch tay trái mạnh hơn tay phải là dương nhiều hơn âm không thuận, tức là người nữ đó bị dương thịnh âm suy. Như vậy, việc xem ‘Nam Tả Nữ Hữu’ chủ yếu chỉ để xem âm dương thuận hoặc nghịch đối với người đó chứ không nhất thiết phải theo đúng quy cách trên.

Điều chủ yếu trong câu ‘Nam Tả Nữ Hữu’ là chú ý vào hai bộ xích của cả nam lẫn nữ.

+ ‘Nam dĩ tả xích nhi tàng tinh’ hoặc ‘Nam dĩ tả xích vi tinh phủ’ (Nam tàng trữ tinh khí ở bộ xích bên tay trái). Xem mạch người nam, nếu bộ xích tay trái hòa hoãn, có lực thì biết rằng người đó tinh khí sung mãn, khỏe mạnh. Nếu bộ xích tay trái Trầm, Vi vô lực thì không khỏe...

+ ‘Nữ dĩ hữu xích nhi bào hộ’ hoặc ‘Nữ dĩ hữu xích vi huyết hải’ (Nữ liên hệ với bào thai và chứa huyết ở bộ xích). Xem mạch người nữ, nếu bộ xích tay phải hòa hoãn, có lực thì biết rằng tử cung và huyết của họ tốt. Nếu bộ xích tay phải Trầm, Vi vô lực thì không khỏe.

Cách xem lục phủ ngũ tạng theo luongyquythanh


Ngũ tạng khí tuyệt chứng hậu


Chiêm nghiệm chứng bệnh của bệnh nhân để biết được “khí” ở ngũ tạng của người ấy, tạng nào đã tuyệt, tuyệt thì sẽ chết. Nghĩa là khí của Ngũ tạng, tạng nào đã tuyệt thì lộ ra chứng bệnh:

1. Nếu bệnh nhân sắc mặt xanh xám, chỉ muốn nằm sấp, mắt mở trao tráo mà không biết ai vào với ai, bồ hôi ra như tắm không cầm lại được thì đó là CAN khí đã tuyệt, trong 8 ngày sẽ chết.

2. Nếu bệnh nhân hơi thở gò vai lại mắt cứ nhìn xoay quanh thì đó là TÂM khi đã tuyệt sẽ chết ngay.

3. Nếu bệnh nhân miệng thở hơi ra lạnh, chân sưng phù, bụng nóng, hông đầy, ỉa chảy không biết thì đó là TỲ khí đã tuyệt, 11 ngày sẽ chết.

4. Nếu bệnh nhân miệng há hốc, chỉ thở ra không hít vào, đó là Phế khí đã tuyệt, 3 ngày sẽ chết.

5. Nếu bệnh nhân mặt đen, răng khô, mắt vàng, lưng đau, bồ hôi ra như tắm đó là Thận khí đã tuyệt, 4 ngày sẽ chết.

Ngũ Tạng Kiến Tứ Mạch Ứng Bệnh


Xem mạch 5 tạng ở 3 bộ Thốn, Quan, Xích (2 tay) hãy xem ngay 4 mạch Phù, Trầm, Trì, Sắc (4 bộ mạch thiết yếu) của từng tạng, từng bộ để biết có bệnh gì tất ứng ra mạch:

1. Xem mạch TÂM ở bộ Thốn tay tả:

– Phù mà sắc thì nhức đầu, nóng mình, đỏ mặt, đau nhức các đốt xương. Nặng hơn thì đau tim làm kinh sợ.
– Phù mà Trì thì bụng dưới đau lạnh, dạ dầy hàn lãnh, ợ chua.
– Trầm mà sắc thì phát cuồng, nói nhảm, cứng lưỡi nói ngọng.
– Trầm mà thì huyết lạnh, khí đoản, tinh thần sút kém.

2. Xem mạch CAN ở bộ Quan tay tả:

– Phù mà Sắc thì bị phong phát nóng, gân co giật.
– Phù mà Trì thì ớn sợ lạnh, có khi phát nóng, chảy nước mắt sống sống mà lạnh.
– Trầm mà Sắc thì hay uất giận, đông hoả phá lở ngứa.
– Trầm mà Trì thì huyết lạnh, khó ngủ, mỏi 2 con mắt, và có khi đau sán khí (Thên truỵ).

3. Xem mạch THẬN ở bộ Xích tay tả:

– Phù mà Sác làm bệnh lao thuộc nhiệt, tiểu tiện đỏ vì hoả động ở Bàng Quang.
– Phù mà Trì thì can tinh làm bạch đái, bạch trọc và trong tai như có tiếng con ve kêu, kêu lâu không trị làm điếc.
– Trầm mà Trì thì Thận lạnh, tinh khí suy, tạng hản ỉa chảy. Nữ nhân thì huyết kết, tử cung lạnh.

4. Xem mạch PHẾ ở bộ Thốn tay hữu:

– Phù mà Sắc thì trúng phong thuộc nhiệt, ho, nóng, tiểu tiện bí.
– Phù mà Trì thì Phế lạnh, đàm rẫy lên tức ngực, ăn uống khó tiêu, ỉa lỏng khó cầm.
– Trầm mà Sắc thì Tâm hoả xâm lấn Phế kim làm nghẹt đàm phát suyễn.
– Trầm mà Trì thì khí nhược, đàm dãi lạnh, ăn không tiêu.

5. Xem mạch TỲ ở bộ Quan tay hữu:

– Phù Sắc mà hữu lực thì Vị hoả xung lên làm nuốt chua, thổ ngược, sưng răng chảy máu, ăn mau đói, đêm ngủ ra mồ hôi trộm. Nếu Phù Sắc mà vô lực thì tại thầy thuốc lầm lần cho uống thuốc hạ (xổ) sinh ra.
– Phù mà Trì thì Tỳ vị hư hán, ụa mửa, đầy trướng.
– Trầm mà Sắc thì ăn mau đói, ngủ nhiều, hôi miệng sưng răng.
– Trầm mà Trị thì Tỳ Vị hàn lãnh, vụng đầy, ăn ít.

6. Xem mạch MẠCH MÔN ở bộ xích tay hữu:

– Phù mà Sắc thì Tam tiêu nóng, tứơng hoả mạnh di tinh.
– Phù mà Trì thì dương khí suy, làm ỉa lỏng, bồ hôi trộm và bạch trọc.
– Trầm mà Sác thì làm bệnh tiẻu khát, nước đái đỏ.
– Trầm mà Trì thì Mạch môn hoả suy làm ỉa lỏng mà nước đái trong.

Bạn có biết Cách khám mạch máu ngoại tuyến?

Điểm 4.6/5 dựa vào 87 đánh giá
  • Cà gai leo: Dược liêu duy nhất làm âm tính Virut B Click xem
  • An Cung Trúc Hoàn: Điều trị tai biến mạch máu não Click xem
  • Nano Curcumin OIC: Hỗ trợ điều trị Đau Dạ Dày, Đại Tràng, Ung Thư Click xem